tua du lich tua du lich

tua du lich, trang du lich, dich vu du lich, doanh nghiep du lich

  Tours   Khách sạn   Nhà hàng   Địa điểm   Tất cả
Read RSS
Điều hành tours
Tư vấn tour
Vé tàu - Vé máy bay - Tour ghép - Khách sạn
Login for travel partners
Tên:
Mật khẩu:
   
|
Hướng dẫn du lịch
Quảng cáo
    Thắng cảnh

Danh lam, văn hóa, ẩm thực Bắc Kan



Tỉnh Bắc Kạn được thiên nhiên ban tặng cho một danh lam thắng cảnh là Hồ Ba Bể. Hồ Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất thế giới.

I. DANH LAM THẮNG CẢNH

1. Hồ Ba Bể - viên ngọc xanh giữa rừng Đông Bắc

Tỉnh Bắc Kạn được thiên nhiên ban tặng cho một danh lam thắng cảnh là Hồ Ba Bể. Hồ Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất thế giới. Hồ có diện tích rộng 500 ha, nằm trong khu vực vườn quốc gia Ba Bể, có hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi với 417 loài thực vật, 299 loài động vật có xương sống, trong hồ có 49 loài cá nước ngọt. Năm 1995 Hồ Ba Bể đã được Hội nghị Hồ nước ngọt thế giới, tổ chức tại Mỹ công nhận là một trong 20 hồ nước ngọt đặc biệt của thế giới cần được bảo vệ. Cuối năm 2004, Vườn quốc gia Ba Bể được công nhận là Vườn di sản ASEAN và đang trình UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới.

Hồ Ba Bể theo tiếng địa phương là "Slam Pé" (nghĩa là ba hồ) gồm Pé Lầm, Pé Lù và Pé Lèng. Từ núi cao nhìn xuống, hồ Ba Bể lọt thỏm giữa dãy núi đá vôi. Hồ co lại và bị kẹp giữa các vách đá dựng đứng. Mặt hồ trải dài 8 km, rộng từ 200 mét đến 1 km, độ sâu trung bình 17 - 23 mét, nơi sâu nhất là 29 mét. Ba Bể càng đẹp hơn bởi tài nguyên rừng phong phú, đa dạng. Các nhà khoa học trong và ngoài nước đã phát hiện trong lòng hồ có nhiều loài cá nước ngọt đặc trưng của vùng đông bắc Việt Nam, trong đó có các loài quý hiếm như cá chép kính, rầm xanh, anh vũ và cá lăng.  Về cảnh quan, địa chất, đây là khu vực thể hiện rõ rệt dấu ấn lịch sử của các thời kỳ hình thành vỏ trái đất. Về địa chất địa mạo, đây là vùng đá vôi cổ rộng lớn, có đặc điểm kiến tạo rất đặc biệt. Vài năm gần đây, Viện địa chất phối hợp với Hội địa chất Bỉ đã tiến hành nghiên cứu vùng đá vôi Hồ Ba Bể. Họ khẳng định đây là vùng đá vôi có niên đại 450 triệu năm. Ðiều kỳ thú là trong quá trình biến đổi địa chất, đá vôi đã biến thành những mảng đá hoa cương. Theo các nhà địa chất thì việc đá vôi trở thành đá hoa cương là điều vô cùng độc đáo và hiếm thấy. Giữa một vùng núi đá vôi lại có một cái hồ lớn, thật kỳ diệu. Đáy hồ có một lớp đất sét dày tới 200 mét bịt kín, chính địa tầng sét này không cho nước thoát xuống và hồ được hình thành như vậy. Toàn cảnh hồ như một bức tranh thủy mặc làm say lòng những du khách tới nơi đây. Xuôi dòng sông Năng hướng về hồ Ba Bể. Đôi bờ của dòng sông là những vách núi đá vôi dựng đứng với bao điều kỳ lạ trong những câu chuyện cổ tích kể về biến cố của thiên nhiên để tạo ra hồ Ba Bể - một viên ngọc xanh giữa rừng đông bắc. Dòng sông Năng xuyên qua khối núi đá vôi Lũng Nham tạo ra động Puông dài 300 mét, cao hơn 30 mét với nhiều nhũ đá muôn hình vạn trạng, huyền ảo và lung linh. Những đợt bào mòn hàng triệu năm của con sông thời gian vào dãy núi đá vôi đã tạo nên một chiếc động kỳ bí trong một chiếc hồ lạ kỳ. Dòng sông uốn mình thơ mộng qua những khúc quanh hẹp trong lòng hang, luồn dưới những rèm thạch nhũ đá đẹp lạ lùng.  Nhằm khai thác và phát huy hiệu quả loại hình du lịch sinh thái và đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách du lịch ban lãnh đạo Vườn Quốc gia Ba Bể đã từng bước xây dựng hệ thống nhà nghỉ cùng các cơ sở dịch vụ như các trung tâm giải trí, nhà hàng ẩm thực với đội ngũ nhân viên nhiệt tình chu đáo. Công tác đào tạo nhân lực, nâng cao chất lượng phục vụ du lịch được quan tâm chú trọng. hàng năm tại đây nhân viên đều được tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn viên, nghiệp vụ buồng, bàn, bar. V.v Công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng, nâng cấp các khu, điểm du lịch luôn được quan tâm đầu tư.

Du khách đến với Vườn quốc gia Ba Bể không chỉ được thưởng ngoạn cảnh đẹp thiên nhiên mà còn được tìm hiểu về các giá trị văn hóa và khoa học với đội đội ngũ thuyết minh hướng dẫn viên am hiểu về Ba Bể và văn hoá truyền thống tại bản địa. Những ngày nắng đẹp, toàn cảnh hồ như một bức tranh thủy mặc làm mê lòng những du khách khó tính. Mặt nước hồ phẳng lặng, lúc nào cũng xanh trong như một tấm gương in đậm bóng núi, mây trời. Lãng mạn hơn, trên hồ thường xuất hiện những cô gái Tày trong bộ đồ màu đen tay khua nhẹ mái chèo đưa đón khách đi về trên những chiếc thuyền độc mộc. Họ chính là những hướng dẫn viên không chuyên nhiệt tình và đầy hiểu biết, đem lại cho bạn từ bất ngờ này đến bất ngờ khác trong cuộc hành trình khám phá vùng đất thiên nhiên hoang sơ này. Đến với Vườn quốc gia ba bể du khách không chỉ được thưởng ngoạn cảnh đẹp thiên nhiên mà còn được khám phá các nét văn hóa truyền thống nơi đây. Với câu hát then, cây đàn tính luôn là niềm tự hào của người Tày ở vùng Ba Bể, là hồn thiêng trong tâm khảm của một tộc người có số dân đông nhất vùng Việt Bắc. Ba Bể còn là nơi ẩn chứa kho tàng văn hoá nghệ thuật truyền thống lâu đời với cộng đồng cư dân các dân tộc sinh sống quanh hồ với những truyền thuyết phong phú và độc đáo: Nếu muốn, bạn sẽ được người dân hiếu khách nơi đây mời về nhà, cùng tham gia sinh hoạt trong đời sống hằng ngày với bà con dân tộc, cùng uống chén rượu ngô cay nồng nhắm với những thịt lợn mọi nướng được lấy từ gác bếp xuống để đãi khách quý. Các bản nhà sàn chênh vênh bên sườn núi của người dân tộc Tày, những nét sinh hoạt văn hóa của đồng bào Dao, Mông, các làn điệu dân ca như hát then, si, lượn, múa khèn; các lễ hội truyền thống như hội Lồng tồng, hội xuân, đua thuyền độc mộc, võ dân tộc, bắn cung, bắn nỏ... đã tạo sự hấp dẫn với du khách. Cộng đồng dân cư sống trong khu vực hồ Ba Bể có khoảng gần 3.000 người thuộc các dân tộc Tày, Dao, H’Mông và Kinh sinh sống trong 10 thôn bản ở Vườn quốc gia, trong đó khoảng 58% là người Tày. Hơn 2000 năm qua, cư dân người Tày đã định cư tại nơi này và trở thành tộc người chiếm đa số ở Ba Bể. Người Nùng, người Dao đến cư ngụ khoảng 100 năm về trước. Trong khi đó người Kinh và người Mông chỉ mới di cư đến. Từ lâu, người Tày ở các khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam có truyền thống canh tác lúa nước dọc theo các thung lũng, ven sông, suối đồng thời họ cũng canh tác nhiều mùa vụ khác. Lịch mùa vụ được đánh dấu bằng lễ hội “Lồng Tồng” - Lễ hội xuống đồng. Thông thường, cư dân người Tày ở tại những dải đất thấp dọc theo sông, suối; cư dân người Dao cư ngụ lưng chừng núi, cư dân người Mông sinh sống trên các vùng núi cao.Ðối với du khách lần đầu tiên tới, quần thể rừng quốc gia Ba Bể - Bắc Kạn luôn ẩn chứa những điều kỳ bí hoang sơ qua những câu chuyện kể mang mầu sắc huyền thoại. Du khách có thể cùng sinh sống với người bản địa, ngủ ở nhà sàn và tìm hiểu khám phá những nét văn hóa đặc trưng của cư dân nơi đây. Đây cũng là nơi mà nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, sinh vật và địa chất có thể đến để tìm hiểu và nghiên cứu. Tại đây người ta có thể biết đến sự những nét văn hóa tương đồng của người tày , người thái người Nùng. Theo truyền thống, cả người Tày và người Nùng xây dựng nhà sàn của mình bằng 4 đến 7 hàng cột đỡ, tạo thành hai khu vực rõ rệt, phần bên trên sàn làm nơi tiếp khách, bếp đun và nơi ở; phần dưới gầm sàn làm nơi cất giữ nông cụ và chuồng nuôi gia xúc, gia cầm. Thông thường, mái nhà sàn có kết cấu hai mái hoặc bốn mái được làm bằng rạ, lá cọ. Kiểu nhà sàn được lợp bằng ngói rất phổ biến ở Ba Bể. Cả một phức hệ bao gồm hồ, sông, suối, núi rừng, hang động đã giữ cho nước hồ Ba Bể có nhiệt độ trung bình cả năm 22oC ấm áp về mùa đông, mát mẻ về mùa hè để Ba Bể là nơi nghỉ ngơi du ngoạn lý tưởng 4 mùa của khách thập phương.Thác Đầu Đẳng hùng vĩ dài tới hơn 1.000 mét, tạo thành ba bậc, bậc trên chênh với bậc dưới từ 3 đến 4 mét theo chiều dài đã tạo cho Ba Bể thêm nét hoang sơ đầy lãng mạn.  Đã bao đời nay, khi nói đến thắng cảnh nổi tiếng này người ta không thể không nhắc đến hình ảnh tuyệt vời của các cô gái Tày xinh đẹp: "Bắc Kạn có suối đãi vàng, Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh".

Với lịch sử phát triển địa chất lâu dài có những nét đặc sắc

         2. Động Nàng tiên - Na Rỳ

  Từ Thủ đô Hà Nội ngược Quốc lộ 3 tới địa phận Thác Giềng (thị xã Bắc Kạn) rồi rẽ phải, băng qua dải đèo Áng Toòng quanh co uốn lượn, du khách sẽ đến với huyện vùng cao Na Rỳ của tỉnh Bắc Kạn. Thị trấn Yến Lạc nằm gọn trong một một thung lũng bốn bề bao bọc bởi những dãy núi cao. Nơi đây bốn mùa khí hậu ôn hòa. Dòng sông Bắc Giang tự ngàn xưa vẫn hiền hòa tuôn chảy tô điểm thêm cho nét đẹp yên bình của thị trấn vùng cao này.Từ thị trấn Yến Lạc đi chừng 5km sẽ đến núi Phja Trạng (núi đá voi). Dưới chân núi, cách bờ một con suối mang tên Khuổi Hai (suối trăng) khoảng 150m có một khu động đá tự nhiên với vẻ đẹp kì thú, đầy huyền bí - động Nàng Tiên. Động Nàng Tiên ăn sâu vào lòng núi khoảng 60m, có độ cao từ 30 - 50m. Bước vào trong động, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những nét đẹp đầy hấp dẫn của tự nhiên. Trong bóng tối, cả khu động lấp lánh những ánh lân tinh huyền ảo từ các nhũ đá, cột đá và măng đá. Tạo hóa đã ban tặng cho nơi đây các cảnh đẹp hấp dẫn, lạ mắt trông giống như: Rồng bay, phượng múa, buồng tiên nữ, những thửa ruộng bậc thang có dòng nước trong mát chảy quanh gọi là ruộng tiên, suối tiên. Động còn thông với nhiều hang nhỏ xung quanh làm cho nơi đây thêm bí ẩn và đầy thơ mộng.

Từ xa xưa, động Nàng Tiên đã đi vào tâm linh của người dân vùng cao Na Rỳ Bắc Kạn. Tự bao đời đã lưu truyền một câu chuyện kể vể sự tích của khu động Nàng Tiên. Truyện kể rằng, thuở xưa, có bảy nàng tiên xuống tắm mát, vãn cảnh tại con suối dưới chân núi Phja Trạng. Mải mê hái hoa, bắt bướm, vui say cảnh đẹp nên trời tối lúc nào không biết, các nàng tiên không kịp bay về trời. Đêm đến, dưới ánh trăng có người trần thế đến mò cua, bắt ốc. Các nàng tiên vội vã lên bìa rừng ẩn nấp. Từ trên cao nhìn xuống, thương tình, Ông Trời đã đã tạo ra động này để các nàng tiên trú ngụ qua đêm. Dòng suối các nàng tiên xuống tắm được người trần thế gọi tên là Khuổi Hai (Suối Trăng), còn động nơi các nàng tiên nghỉ đêm gọi là Động Nàng Tiên. Câu chuyện đầy thần bí cùng với hai tên gọi đó đã được dân gian lưu truyền cho tới ngày nay. Ngoài câu chuyện về sự tích động Nàng Tiên, người dân xã Lương Hạ (huyện Na Rỳ) còn lưu truyền một câu chuyện khác gắn với động Nàng Tiên. Truyện kể rằng “khi bảy nàng tiên đang ở trong động, có một ông tổ họ Lý đã vác búa lên rừng tìm cây để làm bắp cày. Lúc đi qua động thấy các Nàng Tiên đang ngồi chơi cờ, phần vì ham mê cờ, phần do sự quyến rũ bởi sắc đẹp của các nàng tiên, ông họ Lý lấy cán búa ngồi xem các nàng tiên đánh cờ. Chắc xem đánh cờ thì ít mà ngắm các cô tiên thì nhiều nên trời tối mà không biết trở về nhà. Ở nhà mọi người đi tìm suốt ngày này qua tháng khác đều không thấy nên đã làm ma đưa tang. Còn ông tổ họ Lý sau khi xem hết ván cờ, vác búa ra về thì cán búa đã bị mối xông. Về đến nhà, thấy rất đông người, hỏi ra mới biết gia đình đã làm ma đưa tang ông vừa tròn ba năm, hôm ông về đúng ngày mãn tang”.

Động Nàng Tiên - Thắng cảnh thiên nhiên kì thú của huyện Na Rỳ, tỉnh Bắc Kạn đã được người xưa thêu dệt nên những truyền thuyết đầy li kì, thần bí và hấp dẫn như thế. Người dân vùng cao Na Rỳ, Bắc Kạn tự hào và gắn bó biết bao với thắng cảnh tuyệt vời mà tạo hóa đã dành cho quê hương mình. Năm 1999, động Nàng Tiên đã được bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích danh lam thắng cảnh cấp Quốc gia. Hãy một lần đến với vùng cao Na Rỳ Bắc Kạn, đến thăm động Nàng Tiên với vẻ đẹp đầy huyền bí để thưởng thức trọn vẹn kiệt tác của tự nhiên ban tặng cho vùng đất này./.

 

       3. Hang Thắm Làng- điểm du lịch tiềm năng của Chợ Mới, Bắc Kạn

Từ trung tâm xã Yên Hân (Chợ Mới), men theo con đường nhỏ chừng 2km, du khách sẽ tới thôn Nà Làng. Là một xóm nhỏ chỉ có 32 hộ, Nà Làng có những căn nhà sàn xinh xắn thấp thoáng bên vườn cây, chung quanh là rừng xanh bao bọc. Đứng từ xa, ai cũng nhìn thấy phía chân núi là một cây Chò nước đường kính khoảng 3 mét. Ngay gần gốc cây là cửa hang Thắm Làng- một hang động tự nhiên có vẻ đẹp cuốn hút.

Hang Thắm Làng có nhiều cửa thông lên trên đỉnh núi. Ông Hoàng Văn Bích- 52 tuổi, kể lại câu chuyện cách đây hơn 30 năm khi cùng hai người em trai khám phá hang động. Họ đi từ cửa hang trên đỉnh núi xuôi xuống, càng đi càng thấy hang dài và rộng, nhiều nhũ đá với hình thù đẹp mắt, lấp lánh dưới ánh đuốc. Quá mải mê, ba anh em không nhớ đường quay lại. Họ đành tiếp tục đi theo hướng chảy của dòng nước trong hang. Thật bất ngờ, sau hàng giờ đồng hồ họ đã thoát được ra ngoài bởi hang Thắm Làng có một cửa thông ra chân núi. Để đi qua hang, người ta phải vượt qua một cửa nhỏ chỉ vừa thân người chui lọt. Trong ngày gió thổi đổi chiều từ trong ra hoặc từ ngoài vào tuỳ theo thời tiết, người dân đặt tên là “cửa gió”. Bên trong hang có mạch nước ngầm phun chảy thành suối, bốn mùa không hề cạn nước. Chẳng những có hang đá đẹp, trên núi Thắm Làng vẫn còn lưu giữ được hệ động, thực vật khá phong phú như: khỉ, sơn dương, gà rừng, chim công… Rừng Thắm Làng còn nhiều loại gỗ quý như đinh, sến, táu, đặc biệt còn nhiều cây gỗ nghiến lâu năm. Được thiên nhiên ưu ái như vậy, nên từ xưa đã lưu truyền câu nói “Nà Làng gạo trắng nước trong, ai muốn ăn no tắm mát thì lên Nà Làng”. Từ đó, người dân trong vùng bắt đầu biết đến hang Thắm Làng như một cảnh đẹp thiên tạo và thường lui tới hang này để thăm thú.

Được biết, hiện nay chính quyền huyện Chợ Mới đang có hướng đầu tư, khai thác tiềm năng du lịch sinh thái của hang Thắm Làng, gắn với Tour du lịch Đền Thắm (Quảng Chu) và chùa Thạch Long (Cao Kỳ). Hiện đã có doanh nghiệp quan tâm và đang khảo sát điều kiện sinh thái và cảnh quan của hang Thắm Làng. Biết tin này, nhiều người dân thôn Nà Làng không giấu được niềm vui. Bởi nếu nơi đây được đầu tư trở thành khu du lịch sẽ giúp cải tạo lại môi trường sinh thái cho cả vùng, giúp đổi thay đời sống kinh tế cho người dân.

        4. Thác Nà Khoang - di tích danh lam thắng cảnh

Thác Nà Khoang nằm ở chân Đèo Gió, cạnh Quốc lộ 3, cách trung tâm thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn 6 km. Khu vực thác có diện tích khoảng 12 ha, là nơi hợp thành của 2 con suối lớn, đó là dòng suối Nà Đeng chảy qua khe núi Lũng Chang, con suối nhỏ bắt nguồn từ đỉnh núi Phia Sliểng chảy từ hướng Tây Nam xuống khoảng 88 m thì hợp thủy với dòng suối Nà Đeng, với độ dốc lớn đã tạo thành hệ thống thác 4 tầng dài khoảng 600m, chiều rộng trung bình 15m, sau đó chảy xuống suối Bản Mạch. Phía trên thác còn có một hồ nước nhỏ trong xanh là địa điểm tắm lý tưởng cho những ai muốn tránh sự ồn ào, đắm mình trong thiên nhiên. Khu vực xung quanh thác chủ yếu là rừng tái sinh, có độ che phủ trung bình từ 75 đến 85%, về động vật có nhiều loài chim, sóc, bò sát, cá sinh sống. Cư dân ở đây đều là dân tộc Mông, Dao hiện đang lưu giữ bản sắc văn hóa truyền thống như trang phục, tín ngưỡng, các làn điện dân ca, dân vũ, tạo thêm sự đa dạng, phong phú làm sinh động môi trường văn hóa nơi đây.

Với phong cảnh đẹp, hấp dẫn, khí hậu mát mẻ, trong lành và có giá trị nghiên cứu về địa chất, địa mạo, hệ sinh thái, thác Nà Khoang đã được UBND tỉnh công nhận là di tích danh lam thắng cảnh của tỉnh. Hiện nay, khu vực thác Nà Khoang đã được Công ty trách nhiệm hữu hạn Bắc Hải Hà đầu tư xây dựng một số hạng mục và khai thác phục vụ khách du lịch như xây kè, mở đường mòn theo hai bờ suối, đường đến bãi tắm, nhà ăn, nhà nghỉ tạm...; trong tương lai, sẽ đầu tư nâng cấp thành nhà nghỉ hiện đại, khu vui chơi thể thao giải trí lành mạnh, đáp ứng nhu cầu thăm quan, nghỉ mát của du khách gần xa./.

     5. Vườn Quốc gia Ba Bể - Tỉnh Bắc Kạn

Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn được thành lập theo Quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ. Vườn Quốc gia Ba Bể nằm ở phía Tây Bắc huyện Ba Bể, cách thị xã Bắc Kạn 68km theo hướng Tây Bắc và cách thủ đô Hà Nội 250km về phía Bắc.

Khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể có tổng diện tích 44.750ha, trong đó: Vùng lõi 10.048ha, vùng đệm 34.702ha. Vùng lõi bao gồm: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 3.931ha, phân khu phục hồi sinh thái 6.083ha, phân khu hành chính dịch vụ 34ha.

Hệ thống thủy văn của Vườn Quốc gia Ba Bể bao gồm các sông, suối: Chợ Lèng, Bó Lù, Tà Han, sông Năng và hồ Ba Bể. Hồ Ba Bể nhận nước từ các sông Tà Han, Bó Lù và Chợ Lèng ở phía Nam của Vườn Quốc gia với tổng diện tích lưu vực là 420km2. Ba con sông, suối này đổ nước vào hồ, sau khi được điều tiết, một phần nước hợp lưu với sông Năng ở phía Bắc hồ, tiếp tục chảy về sông Gâm. Sông Năng là thượng nguồn của sông Hồng, chảy theo hướng Đông Tây. Tổng diện tích lưu vực sông Năng là 1.420km2. Vào mùa lũ, ngoài 3 con sông, suối ở phía Nam, nước từ sông Năng có thể chảy vào hồ và mực nước ở hồ có  thể dâng lên từ 2 - 3m. Khi nước lũ sông năng giảm xuống, nước trong hồ lại tiếp tục chảy vào sông Năng. Hồ Ba Bể nằm ở độ cao 150m so với mặt biển, có diện tích 450ha, độ sâu trung bình của hồ Ba Bể là 17m đến 23m, chỗ sâu nhất đạt đến 29m. Hồ Ba Bể có vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết nguồn nước trong khu vực: Mùa cạn nước từ hồ đổ ra sông Năng ở phía bắc, khi lũ lớn nước sông Năng dâng cao chảy vào hồ làm cho nước hồ ứ lại. Hồ Ba Bể có khả năng điều tiết hơn 40 triệu m3 nước cho sông Năng và sông Gâm. Hồ Ba Bể là hồ tự nhiên trên núi duy nhất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở Việt Nam, là một hồ kiến tạo tự nhiên lớn. Do cơ chế kiến tạo địa chất và thủy văn đặc biệt nằm trong vùng đá vôi, nhưng hồ Ba Bể không bị mất nước và đây chính là điều kỳ thú độc đáo của hồ Ba Bể.

Ba Bể là một trong những Vườn Quốc gia có độ che phủ và tỷ lệ rừng nguyên sinh cao trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam và các khu vực núi đá vôi trên thế giới. Khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể được che phủ trên 73,68% diện tích rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, trong đó kiểu rừng nguyên sinh ít bị tác động trên núi đá vôi được coi là mẫu chuẩn của hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi đặc trưng cho vùng Đông Bắc Việt Nam và thế giới.

Ba Bể có tính đa dạng cao với 1.268 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có loài bị đe dọa toàn cầu như: Nghiến, kim giao… Khu hệ động vật phong phú với 81 loài thú, 322 loài chim, 44 loài bò sát lưỡng cư, 106 loài cá, trong đó có nhiều loài bị đe dọa toàn cầu như : Voọc đen má trắng, Rái cá thường, Beo lửa, Vạc hoa…

Khu vực Hồ Ba Bể là khu có sự đa dạng của khu hệ các nước ngọt cao nhất trong hệ thống các khu bảo vệ của Việt Nam với 106 loài cá, trong đó có nhiều loài quý hiếm, có giá trị kinh tế cao như: Cá Chiên, cá Lăng, cá Võng. Sản lượng thủy hải sản đánh bắt hàng năm ở  Hồ Ba Bể là nguồn thu nhập chủ yếu của một bộ phận dân cư sống xung quanh hồ.

Ba Bể có nhiều hang động đẹp. Năm 1986, Ba Bể được công nhận là di sản văn hóa lịch sử Quốc gia. Năm 2003, Ba Bể được công nhận là Khu di sản của ASIAN. Ngày 02/2/2011, Vườn Quốc gia Ba Bể được Ban Thư ký Ramsar công nhận là Khu Ramsar thứ 1938 của thế giới và là khu Ramsar thứ 3 của Việt Nam./.

6. Động Hua Mạ (Bắc Kạn) một hang động thiên nhiên hùng vĩ

Ba Bể là một nơi du lịch thật lý tưởng đối với du khách, lướt thuyền êm ả cách hồ Ba Bể 6000 mét đi về phía Tây nam là Động Hua Mạ nằm trong quần thể danh thắng của Hồ Ba Bể, thuộc khu vực xã Quảng Khê, huyện Ba Bể (Bắc Kạn), một hang động tự nhiên thật tuyệt vời và hấp dẫn.

Đến động du khách phải leo núi 300 mét là đến Động Hua Mạ, cửa động rộng 3 mét, cao 5 mét. Khi bước chân vào tới động du khách sẽ được thưởng thức không khí thật trong lành và mát mẻ, với những nhũ đá muôn hình vạn trạng thật huyền ảo lung linh làm mê lòng du khách.

        Động Hua Mạ được người dân biết đến từ rất lâu đời, theo truyền thuyết kể rằng: Một lần nhà vua vi hành gần khu vực động, ngựa không thể qua được suối. Nhà vua bèn xuống ngự hỏi bà con dân bản thì được biết đây là khu vực “Lèo Pjèn” có nghĩa là nơi ma thiêng nước độc. Cứ đến tối ở trong hang thường phát ra tiếng kêu khóc thảm thiết đó là hồn ma của những người dân lương thiện bị giặc giết.

       Nghe kể vậy, nhà vua bèn sai quân lính lập chùa tại hang Thẩm Thinh để nhờ đức phật giải oan cho những oan hồn được siêu thoát về chốn thiên đường. Sau khi lập ngôi chùa này người dân không còn nghe thấy tiếng kêu than nữa. Và cho đến ngày nay người dân thường gọi là Động Hua Mạ có nghĩa là đầu ngựa.

       Những nhũ đá với nhiều dáng vẻ thật kỳ diệu, loại hình tháp bút, hình bông hoa sen… các nhũ đá màu trắng, màu đen, ánh lên với những sắc màu lung linh thật huyền ảo bao trùm khắp cả hang động. Đặc biệt lòng hang rất rộng khoảng 1ha, vòm hang cao khoảng 10 mét, chiều sâu 500 mét tạo ra một không gian thoáng mát, với những luồng gió luồn thổi vào hang làm cho du khách nghỉ ngơi trong những ngày hè nóng bức.

       Đến tham quan thắng cảnh hồ Ba Bể du khách sẽ không thể không ghé thăm Động Hua Mạ một hang động thật tuyệt vời cho khách du lịch trong và ngoài nước./.

II. VĂN HÓA

1.  Tưng bừng lễ hội Lồng tồng xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn

Ngày 24/2/2013 (tức ngày mười lăm tháng giêng âm lịch), xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn long trọng tổ chức lễ hội Lồng tồng với nhiều các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao sôi nổi, mang đậm nét văn hoá truyền thống.

Không còn cái mưa rét căm căm như những hôm trước, Bằng Vân vào hội trong tiết trời ấm áp. Từ sáng tinh mơ, dòng người đã đổ về khu bãi diễn ra lễ hội với sắc váy áo rực rỡ, nụ cười tươi tắn, trong lòng dâng tràn niềm cảm xúc. Nhìn từ trên cao xuống, Hội Lồng tồng Bằng Vân như một bức tranh xuân lung linh sắc màu. Từ màu áo chàm của các cô gái Tày, màu sặc sỡ váy áo của những cô gái Mông, Dao, màu đỏ thắm của lá hồng kỳ, băng zôn, khẩu hiệu. Tất cả đã tạo nên một không gian đa sắc màu cho Hội lồng tồng Bằng Vân năm nay.

Lễ hội Lồng Tồng xã Bằng Vân xuân Quý Tỵ 2013 được mở đầu bằng phần dâng lễ, thắp hương ở miếu thờ tại thôn Cốc Lải, sau đó rước cỗ mời thần linh về sân khấu chính của lễ hội với sự tham gia của các thành viên Ban tổ chức, đại diện các dòng họ và toàn thể nhân dân trong xã. Mâm cỗ dâng lên các vị thần linh bao gồm: Xôi, gà, nải chuối, chai rượu cùng những bánh trái đặc trưng của địa phương. Lễ dâng hương tại miếu thờ này là truyền thống lâu đời của bà con nhân dân xã Bằng Vân mỗi dịp Tết đến, xuân về nhằm tạ ơn trời đất và các vị thần linh, thổ địa, thành hoàng trong vùng đã phù hộ cho mùa màng bội thu, cuộc sống tốt lành, đồng thời trình báo các vị thần linh phù hộ che chở cho dân làng, cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt.

2. Rằm tháng Giêng - Ngày hội của người Mông Khuổi Ỏ

Hội xuân của các dân tộc, địa phương trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn hầu hết diễn ra vào đầu tháng Giêng hàng năm. Hội xuân của dân tộc Mông trên địa bàn huyện Pác Nặm cũng vậy và đặc sắc nhất có lẽ là ngày hội truyền thống của đồng bào Mông thôn Khuổi Ỏ (xã Nhạn Môn) tổ chức đúng ngày Rằm tháng Giêng. Cùng với Hội lồng tồng Bằng Vân (Ngân Sơn), đây là hội xuân cuối cùng được tổ chức trên địa bàn tỉnh.

Đã từ rất lâu, hội xuân của đồng bào dân tộc Mông (thôn Khuổi Ỏ, xã Nhạn Môn huyện Pác Nặm) được biết đến là ngày hội lớn, tổ chức muộn nhất trên địa bàn huyện với các trò chơi dân gian như: Ném pao, đánh cù, chọi gà, chọi bò, thổi khèn…

Ngày nay, hội xuân của đồng bào dân tộc Mông Khuổi Ỏ không chỉ đơn thuần là ngày hội của riêng đồng bào dân tộc Mông nơi đây mà còn có sự tham gia đông đảo của đồng bào các dân tộc trên địa bàn xã Nhạn Môn và các địa phương lân cận, những du khách muốn tìm hiểu về phong tục, lễ hội của dân tộc Mông nơi đây.

Cuộc sống của đồng bào Mông Khuổi Ỏ đang ngày càng được cải thiện, phong tục tập quán đã có sự thay đổi nhất định nhưng ngày hội của đồng bào vẫn được tổ chức theo truyền thống, đậm chất dân tộc. Hội xuân vẫn diễn ra với những trò chơi dân gian mà hiện nay còn ít người biết đến và khó được tìm thấy trong các lễ hội khác trên địa bàn tỉnh như trò chơi đánh cù (đánh quay), ném pao. Trong ngày hội, trò chơi đánh cù không chỉ là trò chơi của riêng các bé trai mà còn có sự tham gia của các nam thanh niên và cả những người già; sự hấp dẫn của trò chơi là sự khéo léo của người đánh quay khi giật dây thả con quay xuống đất quay tròn và phát ra âm thanh rất vui tai. Ngay từ khi đến nơi tổ chức hội xuân, những người chơi đánh cù đã tìm ngay một khoảng đất bằng phẳng làm địa điểm chơi. Không giống các trò chơi hiện đại, phải có sự chuẩn bị về địa điểm và dụng cụ, người chơi quay chỉ cần có một khoảng đất trống bằng phẳng làm địa điểm và dụng cụ chơi là con quay làm bằng gỗ với một sợi dây dài khoảng 2m (dây có độ bền có thể là dây dù hoặc dây len…). Do tập quán sinh sống của đồng bào Mông là trên những núi cao, địa điểm tổ chức hội xuân cũng là trên núi, nên “mặt bằng” chơi cù khá khiêm tốn, người xem phải leo lên sườn đồi để quan sát. Mặc dù vậy, trò chơi thu hút rất đông du khách.

3. Hội xuân Ba Bể

Hội xuân Ba Bể được tổ chức hàng năm, là lễ hội lớn nhất trong năm của tỉnh Bắc Kạn mang đậm bản sắc của đồng bào dân tộc thiểu số vùng hồ Ba Bể, là nơi thỏa mãn khát vọng trở về cội nguồn, sinh hoạt tín ngưỡng và cân bằng đời sống tâm linh của người dân vùng hồ, là một bộ phận hợp thành trong nền văn hoá truyền thống của dân tộc.

Lễ hội chính là sự cầu may, cầu mưa, cầu cho sự cân bằng âm dương, cho loài vật sinh sôi nảy nở, thể hiện khát vọng vươn tới ấm no, hạnh phúc; với niềm mong muốn một năm mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu.

Mở đầu lễ hội là màn dâng lễ của 16 xã, thị trấn huyện Ba Bể với các lễ vật là những sản phẩm ẩm thực như: Xôi ngũ sắc, gà ôm hoa cánh phượng, rượu nếp bánh trưng... tượng trưng cho trời đất, cỏ cây hoa lá. 16 mâm lễ được các chàng trai, cô gái trong trang phục truyền thống của dân tộc mình dâng lên các vị thần sông, thần núi, thần hồ để cầu một năm mới mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, vạn vật sinh sôi nảy nở, nhà nhà no ấm, yên vui.

4. Hội xuân Phủ Thông

Hội xuân do UBND thị trấn Phủ Thông tổ chức với hai phần: Lễ và hội. Phần lễ luôn được diễn ra trong không khí trang nghiêm với lễ dâng hương tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ Phủ Thông để tỏ lòng biết ơn những người con anh hùng của dân tộc và cũng là cầu chúc một năm mưa thuận gió hoà, lao động sản xuất thuận lợi, nhân dân an lành, hạnh phúc.

Cũng như Hội xuân các năm trước, Hội xuân năm nay thu hút được sự tham gia của đông đảo người dân với các trò chơi mang đậm tính dân gian như: Tung còn, cờ tướng, kéo co, đẩy gậy…và một số môn thể thao hiện đại như: Bóng chuyền, bong bàn, cầu lông… Đặc biệt, trò chơi “Hái hoa dân chủ” với các câu hỏi tìm hiểu về thị trấn Phủ Thông, về Hội xuân đã giúp cho nhân dân địa phương cũng như du khách hiểu hơn ý nghĩa của việc tổ chức Hội xuân Phủ Thông hàng năm.

Hội xuân Phủ Thông là Hội xuân lớn nhất trên địa bàn huyện Bạch Thông. Đây là dịp để các địa phương trong toàn huyện và các xã lân cận gặp gỡ, giao lưu văn hóa, tạo nên mối quan hệ đoàn kết, gắn bó của cộng động các dân tộc tại địa phương./.

5. Tết “Đắp nọi ” - nét đẹp văn hoá

Vào ngày 30 tháng Giêng hàng năm, đồng bào Tày, Nùng ở Bắc Kạn tổ chức Tết “Đắp nọi” (Đắp nọi nghĩa là ăn tết lại). Theo phong tục truyền thống xưa, người Tày thường đi chơi hết tháng Giêng, từ nhà này đến nhà khác, bản này đến bản khác. Sau đó quay lại nhà mình “ăn tết lại” để đánh dấu kết thúc tháng ăn tết, kết thúc cuộc vui, bắt đầu vào một mùa lao động mới.

Tất bật chuẩn bị ngày Tết “Đắp nọi” của gia đình mình, anh Nông Văn Hóa, ở thôn Nà Lừu, xã Bành Trạch, huyện Ba Bể cho biết: Những ngày này các gia đình người Tày thường nấu rượu, gói bánh chưng, mổ gà, đồ xôi... làm mâm cỗ cúng tổ tiên, sau đó làm bánh trôi, bánh khúc (gọi là pẻng khúa, loại bánh làm bằng bột nếp trộn với lá rau khúc hái ở ruộng cạn rồi cho vào chảo mỡ rang lên). Ngoài ra còn làm thêm bánh rán, bánh lá ngải...

Hiện nay, hầu hết các gia đình người Tày ở Bắc Kạn đều tổ chức tết này. Nhưng trước đó, các gia đình đã bước vào sản xuất từ mùng 4, mùng 5 Tết. Riêng các lễ hội tổ chức đến mùng 10 tháng Giêng.

Tết “Đắp nọi” được tổ chức là dịp gặp gỡ giao lưu của các gia đình, dòng họ đồng thời có ý nghĩa nhắc nhở mọi người cùng phấn đấu lao động, sản xuất cần cù trong vụ mùa mới, con cháu chăm học tập, lao động./.

III. ẨM THỰC

1. Dẻo thơm cốm Cốc Xả giữa lòng thị xã

Những ngày cuối tháng 10, thời tiết miền núi cao đã bớt dần cái oi nóng, khô hanh của những ngày thu. Tiết trời chuyển dần sang se lạnh, cái lạnh nhẹ nhàng khiến người ta cảm thấy thích thú mỗi khi ra phố hít hà, cảm nhận. Ở cái thị xã “phố núi” những ngày này, người già, trẻ nhỏ đều háo hức ngóng chờ những mẹt cốm xanh ruộm, dẻo thơm của các bà, các cô mỗi buổi chợ.

Bắt đầu từ tháng 8 âm lịch, nếp cốm đã bắt đầu “lất phất”, nhưng tháng 9 mới là lúc cốm rộ. Bắc Kạn cũng giống như nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, mỗi đợt làm cốm dù chỉ kéo dài vài ngày nhưng cũng rộn ràng, nhộn nhịp khắp các bản làng. Cốm có nhiều nơi, nhiều nhà làm, nhưng nổi tiếng thơm dẻo ở Bắc Kạn phải kể đến cốm của các bà, các cô thôn Cốc Xả, xã Hà Vị, huyện Bạch Thông.

Những ngày này, đi qua khu vực tổ 9 - Phường Minh Khai, người ta thường thấy một nhóm 7 - 8 người phụ nữ trung niên, trên tay là những mẹt cốm xanh rì, miệng nói cười, tay không ngớt sàng sẩy. Hỏi chuyện mới biết, các cô đều là người thôn Cốc Xả, xã Hà Vị, cùng nhau xuống thị xã bán cốm. Trước đây, cốm chỉ làm ra vài ba cân để ăn trong nhà, nhưng nhiều năm trở lại đây, cốm Cốc Xả đã được mang bán tại các chợ ở thị xã Bắc Kạn, trở thành món quà quê dân giã được yêu thích.

Cô Hợp - người phụ nữ lớn tuổi nhất vừa cười vừa chia sẻ: Gia đình cô làm cốm đã cả chục năm nay, nhưng đem xuống chợ bán thì chỉ khoảng vài ba năm gần đây. Trước đây, gia đình cô Hợp cũng như nhiều nhà trong thôn chỉ làm cốm theo cách thủ công, không có máy móc gì hỗ trợ nên cũng không làm được nhiều, chỉ có vài ba cân để người già, trẻ nhỏ trong nhà ăn cho vui. Từ khi làm cốm để bán, mọi người rủ nhau mang gạo xuống thị xã để nghiền, rồi tiện ngồi sàng sẩy và bán luôn trước cửa hiệu say sát. Khách mua dần thành quen nên cứ đến mùa cốm cô và mọi người lại cùng nhau ngồi bán ở đây chứ không phải xuống tận chợ nữa.

2. Miến Côn Minh

Ở ngay hiên, trái nhà, ngoài sân trải đầy những mẹt, những nong, những sào phơi miến sóng sánh ánh nắng. Trong nhà, những lò tráng miến khói hơi nghi ngút trắng. Ngoài sân, dong riềng chất cao và tiếng máy xát bột, tiếng người cười nói..., tất cả tạo ra một khung cảnh lao động nhộn nhịp, hối hả. Đứng trước khung cảnh tấp nập của “làng miến” Lủng Vạng, xã Côn Minh, huyện Na Rỳ vào một ngày đầu tháng Chạp, ta mới cảm nhận rõ Tết đang cận kề.

Được biết, sSản xuất dong đã có mặt tại thôn Lủng Vạng, xã Côn Minh từ năm 1970. Lúc đầu dong riềng được đưa vào trồng với diện tích nhỏ lẻ, sau đó tăng dần lên và mở rộng trên phạm vi toàn xã. Nhưng phải đến khoảng những năm 1990 - 1991, khi những người dân miền xuôi lên Côn Minh lập nghiệp mang theo nghề làm miến dong thì nơi đây mới bắt đầu làm miến. Trong xã, hộ này phổ biến cho hộ kia cách làm, ban đầu chỉ để ăn vào dịp Tết, sau có khách qua đường mua miến về xuôi làm quà, vậy là miến dần trở thành hàng hoá và đến nay, miến dong Côn Minh đã trở thành thương hiệu nổi tiếng khắp trong và ngoài tỉnh.

Miến là món ăn thân thuộc của người dân Việt Nam, nhất là trong những mâm cỗ ngày Tết. Miến góp phần tạo nên nét văn hóa ẩm thực vô cùng độc đáo. Với chất lượng, màu sắc, hương thơm đặc trưng, miến dong Côn Minh ngày càng trở thành một sản phẩm hàng hóa được đông đảo thực khách trong và ngoài tỉnh ưa chuộng./.

3. Lúa nếp vàng - đặc sản vùng cao Bắc Kạn

Đến các cánh đồng của Bắc Kạn những ngày đầu tháng 11 có thể thấy khắp nơi một màu vàng rực của lúa mùa, lẩn trong đó có nhiều thang ruộng trồng lúa nếp vàng. Cả không gian thoang thoảng hương vị nếp thơm.

Chúng tôi có dịp trở lại vùng phía Tây huyện Chợ Mới, lúc này đâu đâu cũng bắt gặp không khí nhộn nhịp thu hái lúa. Bên cạnh các thửa ruộng trồng lúa Bao thai, người dân đều dành một phần diện tích cấy lúa nếp. Lúa nếp có nhiều loại: Khẩu nua lương, khẩu nua lếch, khẩu nua ca, khẩu nua pái… nhưng người dân trồng nhiều nhất vẫn là khấu nua lương (lúa nếp vàng).

Khi thu hoạch xong lúa mùa, người dân ăn tết lúa mới, nếp vàng được dùng làm xôi, làm bánh dày cúng tổ tiên, cảm ơn trời đất đã ban cho mùa màng bội thu. Nếp vàng cũng được dùng làm bánh chưng tết, xôi đăm đeng khi Tết Thanh Minh, làm bánh gio khi Tết Đoan ngọ, làm bánh gai, bánh dợm dịp Tết tháng 7. Đặc biệt, lúa nếp vàng không thể thiếu khi làm bánh chưng buộc lạt đỏ mang đi đón dâu mới.

4. Tôm chua, cá chua món ăn độc đáo của dân tộc Tày vùng hồ Ba Bể

Từ lâu, cư dân Tày đã biết chế biến món tôm chua, cá chua. Trước đây, khi tôm, cá còn nhiều, việc đánh bắt dễ dàng nên ngoài việc làm đồ ăn hàng ngày như luộc, rán, nướng… người dân đã biết chế biến ra món ăn có hương vị rất riêng đó là món tôm chua, cá chua.

Những khúc cá to và tôm được trộn mẻ, bột thính, giềng và các gia vị đặc biệt khác rồi bịt kín lại đem ủ, sau một thời gian người dân lấy ra nấu ăn. Tôm cá lúc này ăn rất thơm, mềm có vị chua ngọt riêng. Điều đặc biệt do ủ lâu, ngay cả xương cá cũng rất mềm nên khi nấu ăn người ta có thể ăn cả xương và thịt không phải bỏ thứ gì. Ngày nay, nghề làm tôm chua, cá chua đang có xu hướng phát triển ở vùng hồ Ba Bể. Dọc theo các triền sông, suối người dân lấy tôm, cá về chế biến. Phải là tôm sông, cá sông mới cho hương vị đậm đà, riêng biệt với các vùng quê khác. Khi đánh bắt được các mẻ tôm sông, cá sông, người dân lựa chọn những con còn nguyên vẹn, đều nhau, cá thì cắt khúc rồi làm theo quy trình trên và ủ kín. Sau một thời gian, khi tôm cá đã ngấm đủ gia vị, lên men, bỏ tôm chua, cá chua từ hũ ra, chắc hẳn không ai quên được hương vị đậm đà, mùi thơm của giềng, ngọt mềm chua dìu dịu, ăn cùng với cơm nấu bằng gạo nương thì người khó tính nhất cũng phải gật gù và thốt lên ăn không biết chán. Thường thì, người ta chưng tôm chua, cá chua lên với thịt băm và trộn thêm giềng giã nhỏ chưng lên nhưng nên nhớ rằng nếu cho nhiều thịt băm và giềng sẽ mất đi hương vị riêng của tôm chua, cá chua vùng hồ Ba Bể. Tôm chua có thể ăn cùng với các loại rau sống, thịt luộc, rau rừng… kích thích vị giác cho người ăn thêm ngon miệng. Khác với tôm chua vùng biển hay xứ Huế với vị ngọt gắt của đường, chua cay nồng nàn của ớt giềng, tôm chua, cá chua vùng hồ Ba Bể cũng vị ngọt, chua, cay nhưng lại tự nhiên, hương vị ngọt dìu dịu, chua thanh, hơi cay cay nhưng lại rất đậm đà, riêng biệt.

Hiện nay, cứ 5 ngày có một phiên chợ bày bán tôm chua tại chợ Khang Ninh, trên đường vào hồ Ba Bể. Người ta thường ăn tôm chua với thịt ba chỉ luộc thái mỏng, kèm khế chua, chuối chát, nem thính tai heo, đọt đinh lăng chỉ, rau sống, rau rừng… Giữa khung cảnh thiên nhiên, non xanh nước biếc của Ba Bể, nhấm miếng tôm chua, uống vài cốc nhỏ rượu ngô, du khách sẽ cảm nhận được hương vị đậm đà của thịt ba chỉ, vị cay nồng, lừng lựng của tỏi ớt, vị thơm của giềng, hòa chung với vị ngọt dịu, thấm đẫm của tôm chua thật vô cùng hấp dẫn.

Bên cạnh những món đặc sản khác của vùng cao Bắc Kạn như gà đồi, nếp Tày, nấm hương, miến dong, cơm lam và khoai môn, tôm chua, cá chua có thể nói là đặc sản đặc trưng nhất của vùng hồ Ba Bể.

vietnampathfinder-tom-chua-ba-be

 

Tôm chua bắc kan

 

 


Thông tin liên quan  ----------------------------------------------------------------------------------------------