tua du lich tua du lich

tua du lich, trang du lich, dich vu du lich, doanh nghiep du lich

  Tours   Khách sạn   Nhà hàng   Địa điểm   Tất cả
Read RSS
Điều hành tours
Tư vấn tour
Vé tàu - Vé máy bay - Tour ghép - Khách sạn
Login for travel partners
Tên:
Mật khẩu:
   
|
Hướng dẫn du lịch
Quảng cáo
    Thắng cảnh

Giá trị văn hóa của hát cưới trên thuyền của ngư dân làng chài vịnh Hạ Long



Hát đám cưới là tục lệ có từ lâu đời ở vùng dân tộc thiểu số và cả đồng bào kinh. Song mỗi nơi có cách hát trong đám cưới khác nhau. Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Về lễ giá thú thì mỗi nơi một khác.

Tục huyện Hoành Bồ đến kỳ cưới thì họ nhà gái đưa dâu ra cửa, con trai đi trước con gái đi sau, khi hôn lễ đã thành, hai họ cùng nhau hát xướng tặng nhau bằng tiền. Tục châu Tiên Yên nhà trai đến nhà gái ở cửa có đặt bàn chắn cửa trên treo hoa lá, ở bàn để trầu cau, mỗi thứ một đôi và một đĩa hoa, lại có một cái đĩa để không. Nhà trai nhà gái mỗi bên hai người lần lượt xướng họa, nhà trai lấy tiền đưa những người hát đối nhau”.

Sau này nhiều tục lệ thay đổi, nhiều tục lệ mất đi trong một số đám cưới ở vùng nông thôn Quảng Hà, Vân Đồn, sau tục cưới hoặc khi nhà trai đón dâu về, các ông bà già đứng lên hát chúc mừng gia chủ, chúc mừng đôi vực chồng trẻ bách niên giai lão. Riêng kiểu hát với cách hát đối có đĩa hoa... thì tới những năm 1950 còn thấy ở khu vực đảo Vân Đồn. Điển hình là ở cộng đồng dân chài. Loại hình diễn xướng này gọi là hát cưới trên thuyền (mượn trích dẫn trong “Địa chí Quảng Ninh” phần nghệ thuật múa hát).

Đám cưới làng chài thường được tổ chức vào ngày rằm (giữa tháng Âm lịch) trong mùa cưới từ tháng tám năm trước đến tháng ba năm sau. Những đêm giữa tháng trăng sáng, cá ăn tãi dân chài thường nghỉ đánh bắt nhưng lại là những đêm non nước lung linh kỳ ảo rất thuận tiện cho một sinh hoạt của cộng đồng - ngày cưới.

Nhà trai thường đi đón dâu bằng vài ba thuyền lớn. Thuyền nhà gái neo đậu sát nhau, trong đó có một thuyền lớn có bàn thờ gia tiên ở trong khoang giữa. Bên ngoài, trên mặt sạp phía mũi thuyền có chăng ba dải lụa thứ tự từ phía mũi thuyền về phía khoang giữa: Dải lụa màu xanh tượng trưng ngõ khách; Dải lụa màu vàng tượng trưng ngõ treo; Dải lụa màu đỏ tượng trưng ngõ hoa.

Ở cửa vào trong khoang giữa còn treo một đôi chim bằng bông hoặc đan bằng tren dán giấy (hình chim phượng hoặc chim câu). Ngoài ra thuyền nhà gái không có trang trí gì khác.

Thuyền nhà trai cũng không trang trí gì đặc biệt. Y phục chú rể: áo the, khăn xếp, đi chân trần; Y phục cô dâu: áo dài tứ thân, thắt mớ ba, khăn mỏ quạ, đội nón.

Nhà trai và nhà gái đều có vị cao niên gọi là “chánh sứ” là nam giới. Y phục áo the, khăn xếp. Nhà gái và nhà trai đều có ông bà “bù đa” (ông bà mối), là những người đứng tuổi. Ông bù đa mặc áo the, đội khăn xếp; Bà bù đa mặc áo dài, quần lụa, khăn vấn trần.

Bên nhà trai và bên nhà gái mỗi bên có một đội hát hai đến ba người. Ngoài ra có người phù dâu phù rể. Bên trai có người bưng cơi trầu bằng đồng, bưng quả khem nhỏ bằng gỗ, ấm chén nước. Nhà gái chuẩn bị đĩa hoa.

Có thể nói hát cưới trên thuyền là một “hội hát giao duyên”. Ở đây tập trung hầu hết các điệu hát giao duyên vùng biển. Hát cưới trên thuyền chứa đựng những giá trị văn hóa về nhiều mặt trong đó nổi lên hai vấn đề chính có thể cô đọng lại như sau:

1. Giá trị nhân văn:

Hát cưới trên thuyền là một bộ phận quan trọng trong kho tàng ca dao vùng biển Quảng Ninh. Nó là phương tiện để truyền đạt tình cảm, diễn tả tâm hồn, tư tưởng của người dân vạn chài quanh năm lênh đênh trên biển. Hát đám cưới đã đi vào trong sinh hoạt của cư dân vạn chài, nó ghi lại trong mỗi câu hát biết bao niềm vui, nỗi buồn, cái yêu, cái ghét cũng như những hoài bão, mơ ước, chí khí của người dân vùng biển Hạ Long. Nhưng bao trùm lên tất cả những câu hát ấy là giá trị nhân văn sâu sắc.

Trước hết đó là những khúc ca đằm thắm tình yêu quê hương biển đảo giàu đẹp. Chẳng hạn trong phần hát Ngõ hoa có hát Đố, hát Giảng, sau câu hỏi của chàng trai: 

Em là con gái Liễu Mai

Anh mong vượt về ra ngoài đất Vân

Hỏi em đâu xóm đâu làng

Mênh mông trời nước biết đường nào đi.

 

Lời đáp của cô gái chính là tên các địa danh mà chỉ có những người gắn bó với quê hương mới có thể sáng tác ra được:

 

Đất Vân có cửa Chà Vàng

Núi Thồng, núi Gội nghênh ngang lưng chừng

Đất Vân lại có núi Vừng

Xóm Cằm, Mai Mác nửa chừng ngoài khơi

Trông về Móc Vượn anh ơi

Đông Hồ, Giếng Bẹ là nơi có làng

Soi Ba, Soi Oản thênh thang

Lưng Giao, Soi Buộm vào làng gần thay

Chàng nhì Cống Chậu xinh thay

Lách Đào, Mon Tỏi có hay không chàng.

 

Trong phần hát Đố hát Giảng về cá, về chim, về hoa, về thiên văn địa lý, về truyện Kiều, về nghề biển, nghề làm ruộng, nghề chăn tằm dệt lụa, nghề dựng nhà, đóng thuyền. Từ một bài ca dao đã được truyền đời, người hát đố vận thành câu hỏi, người hát giảng vận thành câu hát. Đôi bên thử tài thì ít nhưng bày tỏ tình yêu thì nhiều.

hat-dam-cuoi-vietnampathfinder

                                Hát giao duyên

Trong những câu hát mà trai gái đối đáp trong hát đám cưới, tính trữ tình là đặc điểm chủ yếu bởi đó là mục tiêu, là nhu cầu thổ lộ tâm tình. Người dân chài hát đố, hát giảng về mọi chuyện trên đời, dưới biển chỉ là cái cớ, là chỗ gửi gắm tiếng nói thầm kín của tình yêu. Do đó những bài ca về tình yêu lứa đôi trong những câu hát đám cưới vẫn phong phú và giầu sắc thái hơn cả. Bởi tình yêu của lứa đôi dân chài cũng đủ các trạng thái nhớ thương, hờn giận nhưng do khao khát được giao lưu và giải tỏa bởi họ luôn sống lênh đênh trôi dạt cho nên những lời hát bao giờ cũng da diết, say đắm hơn.

Giữa mênh mông trời nước, nỗi buồn tương tư của đôi trai gái như làm mờ cả trời mây:

 

Trên trời u ám vì mây

Thuyền ta u ám vì dây tơ hồng.

 

Khi hát đối đáp giao duyên trong đám cưới, trai gái nảy nở tình yêu, nhưng cuộc vui nào cũng đến phần kết thúc dẫu nỗi buồn chia ly dù chỉ là xa cách tạm thời mà vẫn nhớ thương da diết:

Kẻ về người lại trông theo

Trông chương chương khuất, trông đèo đèo cao

Trông buồm buồm một cánh nâu

Nửa đêm thức dậy trông sao sao mờ.

 

Trước biển rộng, non cao kẻ đợi chờ chỉ còn ngóng trông bóng dáng con thuyền của bạn tình:

Nước lên cho chóng nước ơi

Cho thuyền nhân ngãi ngoài khơi chèo vào

 

Mỗi khi có đám cưới, họ lại được gặp nhau để tâm sự nỗi nhớ nhung qua lời ca tiếng hát:

Mấy khi đông đám thuyền nghề

Mấy khi giáp mạn kề be xum vầy

Buộc vào xin chớ cởi ngay

Dây đay thì cởi, xin chớ cởi dây tơ hồng

 

Sức mạnh tình yêu của dân chài thật mãnh liệt:

 

Tình ta thăm thẳm biển sâu

Đã yêu dẫu mấy cơ cầu cũng yêu

Cho dù lái gãy buồm xiêu

Tan thuyền nát ván cũng liều vì nhau

 

Người dân chài rất coi trọng tình yêu chung thủy. Hàng loạt bài hát trong đám cưới ở đoạn Ngõ Hoa, đôi bên mua hoa và hát những lời thề nguyền thật chân thành và cảm động. Đây là bài hát đặc sắc cả ý lẫn lời:

 

Trăm năm một cuộc tình duyên

Phải đâu thăm ván bán thuyền cho qua

Một lời đã nói cùng ta

Đừng như bãi sú vào ra trăm đường

Đã thương thì một lòng thương

Đừng như tép lẫn vãi đường vịt ăn

 

Trong những bài hát thể hiện ở đám cưới thì những bài hát về hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình của những người dân chài luôn được lồng vào cảnh đẹp của non xanh nước biếc và còn đẹp hơn trong lao động gian khổ:

 

Thuyền duyên chạy với thuyền tình

Đi xuôi có mình, đi ngược có ta

Động trời gió táp mưa sa

 

Anh về bẻ lái em ra xuống buồm

 

Trong hát đám cưới thì một đặc điểm nổi bật là khát vọng tự do yêu đương. Với dân chài Nho giáo và các tập tục phong kiến không đè nặng như với cư dân trên bờ. Họ không biết chữ nghĩa, không được học sách thánh hiền, không bị các thế lực cường quyền trực tiếp áp chế mà họ sống rất tự do. Vạn chài, làng chài các xã ngư nghiệp sau này chỉ hình thành có qui củ ở một số vùng biển khác chứ với vùng biển đảo Quảng Ninh thì từ ngàn đời rất khó quản lý chặt chẽ được. Do vậy với dân chài, tuy có lấy vợ, lấy chồng sớm nhưng hầu như không có sự ép buộc của cha mẹ. Họ tự do tìm hiểu nhau phần lớn thông qua lời ca tiếng hát trong các dịp đám cưới hay những buổi đi đánh bắt cá ngoài khơi. Trai gái dân chài, nhất là con gái thường rất mạnh dạn, rất chủ động tỏ tình. Có khi người con gái cám cảnh sự quanh quẩn của mình, không được như con trai thả sức tung hoành:

Chàng như rồng cuốn giữa trời

Thiếp như con cáy nằm phơi bãi bùn

 

Ngược lại, chàng trai lại cháy bỏng nỗi khát khao khi nghĩ về người yêu:

Em như lấp lánh ánh đèn

Anh như đêm bão nhìn lên thấy bờ

 

Như vậy, hát đám cưới trở thành một ngày hội của ngư dân thủy cư trên biển. Phần lễ là những nghi thức buộc phải có trong đám cưới, phần hội là phần hát giao duyên qua ba lần chăng ngõ và ba lần cởi ngõ của thanh niên nam nữ. Qua lời ca tiếng hát họ có thể gửi gắm những tâm sự, những tình cảm thầm kín hoặc mới nảy nở trong lòng cho người mình thầm thương trộm nhớ mà nếu không có đám cưới thì họ khó có thể bộc lộ được do điều kiện cuộc sống, lênh đênh sông nước phải đi làm kinh tế xa không thể gặp gỡ thường xuyên được. Hát đám cưới là để chú rể đón cô dâu về làm vợ và cũng từ đám cưới sẽ nảy nở những tình yêu mới, hứa hẹn những đám cưới khác trong thời gian không xa.

Hát đám cưới có tính nhân văn sâu sắc cao cả, nó là chiếc cầu nối tình yêu độc đáo của ngư dân thủy cư lênh đênh trên biển cả. Và hơn thế nữa, trong hát đám cưới sự coi trọng, tôn trọng các cô gái được thể hiện khá rõ nét trong đoạn hát Ngõ Hoa. Người con gái được ví như những bông hoa chứ không phải là sự mua bán tầm thường:

 

Hoa Hồng bán một định mười

 

Hoa Lan, hoa Huệ sánh đôi lạng vàng

 

Khi hoa đã được bán vào tay các chàng trai rồi thì sự nâng niu trân trọng ấy lại được thể hiện trong lời nguyền tốt đẹp của người mua hoa:

Đã thề thắm thiết với hoa

 

Bể sâu núi đựng với là trăng soi

Yêu mình lắm lắm mình ơi

 

Đôi ta ra lộng vào khơi chung tình

 

Dù sống trong môi trường không thuận lợi cho việc học hành, giao tiếp với xã hội nhưng tư tưởng của người dân chài thật tiến bộ, không hề có tư tưởng trọng nam khinh nữ, con trai gia trưởng trong gia đình như dân ở trên bờ, trai gái tự do tìm hiểu, khi cưới nhau rồi thì được đóng thuyền ra ở riêng. Con người sống với nhau thoải mái, không bó buộc trong lễ giáo phong kiến.

2. Giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật:

Bên cạnh giá trị nhân văn sâu sắc, hát cưới trên thuyền còn biểu hiện rõ nét những giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật. Những giá trị này thể hiện rất rõ qua lời ca và giai điệu của hát cưới trên thuyền.

Trước hết xin được nói về giai điệu của Hát cưới trên thuyền, giai điệu của lối hát này gần với giai điệu của giọng hò miền Trung nhưng mềm mại, chậm rãi mênh mang, trữ tình hơn. Sau tiếng “ơ” ngân rất dài là lời hát gần như hát Đúm, tiết tấu chậm, âm vực thấp ai cũng có thể hát được. Hát đám cưới nhìn chung là đơn giản, mộc mạc về thang âm, điệu thức, về tiết tấu, về cấu trúc giai điệu, song sự đơn giản mộc mạc ấy không đồng nghĩa với sự đơn điệu nhàm chán mà người nghệ sĩ không chuyên đã khéo léo nhấn và nhả câu trong khi hát khiến cho lời ca ngân nga, mượt mà, trữ tình và sâu lắng có tính hấp dẫn cao.

Về lời ca trong câu hát đám cưới, nếu nhìn tổng thể thì chúng ta thấy hầu hết đó là những ngôn từ bình dân, lời thơ mộc mạc, thô sơ và nhiều khi có những từ ngữ mang tính chất địa phương. Nhưng chính từ sự thô sơ mộc mạc ấy lại toát lên một vẻ đẹp hồn nhiên, duyên dáng nhờ hình thức nghệ thuật biểu hiện một nội dung tư tưởng trong sáng. Chúng ta có thể tìm hiểu vẻ đẹp những giá trị thẩm mĩ qua lời ca của Hát cưới trên thuyền.

Hát cưới trên thuyền chứa đựng tiếng nói, ngôn ngữ thông thường của người dân chài vùng biển nhưng đó lại là những từ ngữ giàu tính biểu cảm:

Còn đang giấc tưởng hồn mai

Bâng khuâng ai có biết ai mà chào

Hay:

Lơ thơ buồm lái dạo ngoài

 

Lạ lùng chẳng biết lạch ngòi ở đâu

 

Hát cưới trên thuyền đẹp về ngôn ngữ nhưng đồng thời đẹp về kết cấu. Kết cấu lời ca hát cưới trên thuyền được kết cấu theo một trình tự nhất định, được quy định bởi thứ tự của ba lần ngõ: Ngõ Khách, Ngõ Cheo và Ngõ Hoa:

 

Ba ngõ cởi một còn hai

 

Ngõ trong lát đá, ngõ ngoài cài then

Hỏi rằng chàng lạ hay quen

 

Thì chàng nói thật em đây cho vào

Chàng mà trả giá làm cao

 

Dừng chân đứng đó hượm vào tới đây

 

Phương pháp sử dụng hình tượng khá phong phú, nó vừa mang tính khái quát, vừa mang tính trừu tượng:

Anh về xẻ ván còn lâu

 

Anh đưa vạt áo bắc cầu em sang

 

Lối diễn tả ví von đầy chất văn học của những người dân chài lam lũ:

Bướm rằng dạo hội chung trăng

Có khi cũng mượn xích thằng xe duyên

 

Phần lớn những bài hát thể hiện trong Hát cưới trên thuyền là những câu thơ bình dân làm theo thể lục bát và một số theo thể thơ khác nhau như thể tự do, thể thất ngôn hay bốn chữ. Nội dung chủ yếu của nó là trữ tình đằm thắm, thể hiện tình yêu đằm thắm thủy chung son sắt:

 

Trăm năm một cuộc tình duyên

Phải đâu thăm ván, bán thuyền cho qua

Một lời đã nói cùng ta

Thề lời vàng ngọc trọn duyên với nàng

 

Trong đám cưới không thể thiếu được miếng trầu bởi “miếng trầu là đầu câu chuyện”, mời nhau ăn một miếng trầu, việc này tưởng như đơn giản nhưng lời mời làm sao cho khéo, mời làm sao để cho người ta thấy được sự chân thành tha thiết của người mời mà lại chuyển được cả ý muốn gửi gắm vào miếng trầu:

 

Trầu quế Hải Ninh, cau quế Hải Phòng

Đã ăn thì chớ ngại ngùng xa xôi

Ăn trầu thì nhớ đến vôi

Lá vỏ anh hái nước người đường xa

 

Có nhiều bài hát sử dụng trong hát cưới thể hiện một trình độ kiến thức văn học uyên thâm mặc dù những người sử dụng câu hát đó có trình độ học vấn rất thấp:

 

Chuyện Kiều chàng thuộc làu làu

Đố chàng kể được một câu chín càng

 

Lời giải:

 

Càng đàn, càng dịch, càng mê

Càng dan, càng díu, càng mê mẩn lòng

Hương càng đượm, lửa càng say

Càng vui vẻ ngọc, càng nồng tình yêu

 

Trong loại hình diễn xướng dân gian thì có lẽ Hát đám cưới lời ca giầu chất trí tuệ nhất. Trong phần hát Ngõ hoa bài hát Đố, hát Giảng về cá chứa đựng tên hàng chục loài cá các loại ở biển khơi:

Cá Cường phun nước lên cao

Tìm cồn, rạn đá mà vào tựa nương

Cá Mòi bay lên làm chim

Cá Nóc rách bể đi tìm rừng xanh

 

Những mơ ước trong cuộc sống gia đình như mong muốn có đàn con cháu đống, cả nếp lẫn tẻ, sống lâu bách niên giai lão, giàu có cũng được các nghệ nhân thể hiện trong bài hát chúc mừng cô dâu chú rể:

 

Chúc cho đình trưởng bách niên

Vợ chồng thương nhau đến già

Chồng Loan, vợ Phượng chúc hoa động phòng

Vợ chồng thương nhau đến già

Sinh năm con trai đầu lòng

Sinh năm con gái thong dong là mười,...

 

Hát giao duyên là một nét đẹp trong văn hoá truyền thống của chúng ta. Trong hát giao duyên chứa đựng một kho tàng khổng lồ về ca dao, dân ca, phong tục tập quán và lễ hội. Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc bắt đầu bằng việc làm như chúng ta hôm nay - đó là điều tra sưu tầm một loại hình văn hoá đã và đang dần mất đi ở một khu vực mà chỉ có khu vực đó - vịnh Hạ Long - nó mới tồn tại được.

Có một điều kiện thuận lợi là chúng ta đã kịp thời sưu tầm, lưu giữ các bài hát, tập luyện được cho các lớp thanh niên của làng chài Cửa Vạn (gần 30 em) thông qua Dự án “Phục dựng, bảo tồn và phát huy một số giá trị văn hóa dân gian của ngư dân làng chài Cửa Vạn (vịnh Hạ Long)” do Sở Văn hóa Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) thực hiện đã làm sống dậy tục hát đám cưới, hát giao duyên của bà con xưa, tuy nhiên Dự án chỉ mới dừng lại ở việc sưu tầm, phục dựng, bảo tồn những làn điệu trong dân còn việc phát huy nó trong cuộc sống đương đại thiết nghĩ cần có sự vào cuộc của tất cả các cấp, các ngành có như vậy thì hát giao duyên vùng biển mới sống lại và trường tồn. Xin được mượn lời phát biểu của ông Tống Khắc Hài, hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tại buổi Hội thảo khoa học về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa làng chài thủy cư với việc phát triển du lịch do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức năm 2010 để khép lại bài: “Để phục dựng đúng nghĩa làm sống lại trong đời sống các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian nói chung, hát đối và hát cưới nói riêng, không phải hoàn toàn bất khả thi khi phương thức hành nghề và điều kiện sống của ngư dân thay đổi - vấn đề là lựa chọn các loại hình nào cho thích hợp với cuộc sống mới và sau đó vẫn là khâu tổ chức. Ta không có ảo tưởng phục dựng hoàn toàn lề lối hát của ngày xưa mà phải tìm ra cái cần cho thanh niên ngư dân ngày nay. Trong cái hỗn tạp tiếp nhận các loại hình đa dạng những rất nhiều cái gượng ép, vô lối, lai căng, xa lạ với lối sống và tâm tính, đạo đức dân tộc thì cái nguồn cội của dân gian vẫn có thể tồn tại và được tái tạo. Đương nhiên phải có đầu tư, phải có tuyên truyền, phải có nhiều lực lượng tham gia. Đây mới chính là bước bảo tồn và phát huy, như vậy di sản văn hóa của ngàn xưa sẽ sống mãi, không thể và không nên hoàn toàn giống ngày xưa mà là thích ứng để tồn tại trong cuộc sống mới. Rất có thể nó sẽ phát triển với những giá trị đặc sắc mới, hình thức diễn xướng, hình thức tồn tại mới,... như vậy, việc nghiên cứu, việc đầu tư sau bước thử nghiệm, phải chăng đến đây mới thực sự bắt đầu,...”.

 


Thông tin liên quan  ----------------------------------------------------------------------------------------------
    - Khuê Văn Các
    - Làng Vòng
    - Hội Tứ Liên